Chào mừng quý vị đến với TRƯỜNG SƠN ĐÔNG NẮNG TÂY MƯA - AI CHƯA ĐẾN ĐÓ NHƯ CHƯA HIỂU MÌNH.

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Gốc > Biển và hải đảo Việt Nam >

HIỆP ĐỊNH PHÂN ĐỊNH VỊNH BẮC BỘ GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC

(ĐCSVN)Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, có chung đường biên giới. Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử quan hệ giữa hai nước và với sự phát triển của luật biển quốc tế, giữa hai nước tồn tại ba vấn đề biên giới lãnh thổ phải giải quyết là vấn đề biên giới trên đất liền, vấn đề phân định vịnh Bắc Bộ và vấn đề trên Biển Đông (vấn đề hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và phân định biển trên Biển Đông). Tiếp theo việc hai nước ký Hiệp ước về biên giới trên đất liền năm 1999, trong năm 2000, năm cuối cùng của thế kỷ XX, hai nước cũng đã hoàn tất quá trình đàm phán kéo dài 27 năm từ năm 1974 và ký kết được Hiệp định về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa trong vịnh Bắc Bộ, cũng như Hiệp định về hợp tác nghề cá trong vịnh giữa hai nước. Đây là những hiệp định quan trọng, có ý nghĩa lịch sử.

I. Kết quả phân định và nội dung Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ

1. Các nội dung và yếu tố liên quan đến phân địnha) Các nội dung phân định:

- Phân định lãnh hải của hai nước;

- Phân định vùng đặc quyền kinh tế;- Phân định thềm lục địab) Các yếu tố liên quan:

- Quyết tâm chính trị của hai nước giải quyết vấn đề phân định vịnh Bắc Bộ: Nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao hai nước là giải quyết xong vấn đề phân định vịnh Bắc Bộ trong năm 2000 (thoả thuận trong các chuyến đi thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Đỗ Mười năm 1997 và Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu năm 1999).

- Vấn đề phân định vịnh Bắc Bộ, dù thoả thuận như thế nào cũng phải bảo đảm nguyên tắc công bằng, phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật biển năm 1982.- Điều kiện cụ thể và hoàn cảnh khách quan của vịnh Bắc Bộ, trong đó chủ yếu là điều kiện địa lý tự nhiên.- Các lợi ích thực chất gắn với nội dung phân định như: diện tích vùng biển phân định được hưởng (hoặc vấn đề lãnh thổ đảo, nếu có); quyền chủ quyền đối với tài nguyên dầu khí, hải sản; chế độ đi lại trên biển và sông biên giới.- Đồng thời, giải pháp phân định cần đạt được trên cơ sở thông cảm nhân nhượng lẫn nhau, công bằng và hợp tình, hợp lý.c) Quan điểm và lập trường chính của mỗi bên

Trong quá trình đàm phán, hai bên tập trung giải quyết một số vấn đề cơ bản như sau:

* Về tỷ lệ phân chia diện tích tổng thể vịnh Bắc Bộ:

- Quan điểm cơ bản của phía Trung Quốc là, do điều kiện "địa lý chính trị" của vịnh Bắc Bộ giữa hai nước là đại để đối đẳng nên kết quả phân chia diện tích vịnh giữa hai nước phải "đại thể bằng nhau", phía Việt Nam có thể hơn một ít nhưng chênh lệch không nhiều. "Đại để bằng nhau" chính là kết quả phân định" công bằng.

Để bảo đảm yêu cầu này, phía Trung Quốc sử dụng phương pháp phân định tổng hợp, trong đó có chỗ sử dụng điểm và đoạn trung tuyến bờ - bờ để thể hiện đường phương án phân định của mình.- Quan điểm của Việt Nam là cần căn cứ luật pháp và thực tiễn quốc tế, hoàn cảnh khách quan của vịnh Bắc Bộ để phân định nhằm tìm kiếm một giải pháp công bằng. Tỷ lệ diện tích là hệ quả, không phải là tiền đề của việc phân định, công bằng không đồng nghĩa với "chia đôi".Ta đề nghị dùng phương pháp đường trung tuyến, là phương pháp phổ biến trong thực tiễn quốc tế, có tính đến hiệu lực của tất cả các đảo, đặc biệt là đảo Bạch Long Vĩ, có sự điều chỉnh cần thiết theo hiệu lực pháp lý và sự quan tâm của mỗi bên.- Vùng chồng lấn ban đầu của hai bên chiếm khoảng 13% diện tích Vịnh.* Hiệu lực của đảo, trong đó có đảo Bạch Long Vĩ:

- Phía Trung Quốc không muốn các đảo Việt Nam có hiệu lực trong phân định, đảo Bạch Long Vĩ chỉ có vành đai lãnh hải 12 hải lý (vì mục đích này, họ cũng không cho các đảo của họ có hiệu lực, trừ Hải Nam được coi là lục địa).

Đối với đảo Bạch Long Vĩ, phía Trung Quốc thừa nhận chủ quyền của Việt Nam đối với đảo Bạch Long Vĩ nhưng cho rằng nếu cho đảo có hiệu lực, sẽ làm đường phân định đi lệch quá nhiều về phía Trung Quốc, dẫn đến kết quả không công bằng.- Phía Việt Nam muốn các đảo Việt Nam có hiệu lực trong phân định. Tuy nhiên, căn cứ vào thực tiễn quốc tế, Việt Nam đề nghị đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam nhất thiết phải có hiệu lực nhất định trong phân định, việc xem xét hiệu lực của đảo phải căn cứ vào Công ước 1982 và thực tiễn quốc tế nhằm bảo đảm giải pháp phân định công bằng.* Về đường đóng cửa Vịnh:

- Căn cứ vào hiệu lực pháp lý của đảo, ta đề nghị đường đóng cửa Vịnh là đường thẳng nối đảo Cồn Cỏ (Việt Nam và Mũi Oanh Ca (Trung Quốc). Trên cơ sỏ đó xác định điểm biên giới ở cửa Vịnh.

- Phía Trung Quốc đề nghị không tính đảo Cồn Cỏ vào phạm vi Vịnh mà lấy đường thẳng nối Mũi Lay (Việt Nam) với Mũi Oanh Ca (Trung Quốc).  - Hai bên có sự khác nhau khoảng 13 hải lý.* Về nghề cá:- Việt Nam đề nghị hai bên phân định rạch ròi ranh giới vùng đặc quyền kinh tế giữa hai nước trong Vịnh, trên cơ sở đó giải quyết tiếp vấn đề hợp tác nghề cá. Vấn đề đánh cá là vấn đề thuộc lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật, phụ thuộc nhiều vào yếu tố tài nguyên, môi trường nên không thể gắn vào Hiệp định phân định là vấn đề lâu dài về biên giới.- Phía Trung Quốc nêu nguồn tài nguyên sinh vật trong vịnh Bắc Bộ là chung, có tính chuyển dịch, không thể chia cắt. Từ lâu ngư dân hai nước đều cùng đánh bắt trong Vịnh. Vịnh Bắc Bộ là ngư trường đánh cá truyền thống của cả ngư dân hai nước. Khi phân định cần bảo đảm "quyền đánh cá truyền thống" của ngư dân Trung Quốc trong vùng đánh cá truyền thống ở Vịnh. Nếu không bảo đảm quyền đánh cá của ngư dân Trung Quốc thì sẽ không thể phân định. Vấn đề quyền đánh cá liên quan trực tiếp đến sự sinh sống của nhiều ngư dân Trung Quốc. Trong quá khứ, hai bên đã ký các Hiệp định hợp tác đánh cá. Phía Trung Quốc muốn đưa vấn đề nghề cá vào trong Hiệp định phân định.* Vấn đề Tổng đồ phân định vịnh Bắc Bộ và bản đồ chuyên đề cửa sông Bắc Luân:- Để có thể xác định đường phương án phân định, hai bên phải thống nhất một bản đồ chung. Hai bên không đồng ý sử dụng bản đồ nước thứ ba cũng như bản đồ đơn phương của mỗi bên nên đã đồng ý cùng nhau thiết lập một bản đồ chung. Vấn đề nổi lên trong việc thành lập bản đồ chung là phương pháp thiết lập bao gồm đo sâu, bay chụp và đo khống chế mặt đất và vấn đề thể hiện đường bờ biển trên tổng đồ.- Hai bên thống nhất lập tổng đồ vịnh Bắc Bộ phục vụ phân định tỷ lệ 1/500.000 theo phương pháp bay chụp và đo khống chế mặt đất, thể hiện đồng thời hai đường bờ thấp và cao trên tổng đồ.- Để xác định điểm cơ sở cuối cùng của mỗi bên tại ngấn nước triều thấp nhất, đường đóng cửa sông và phân biệt vùng cửa sông thuộc biên giới trên bộ và vùng cửa sông thuộc phân định vịnh Bắc Bộ và địa hình cụ thể của khu vực cửa sông biên giới phục vụ phân định, hai bên đồng ý cùng đo đạc và lập bản đồ chuyên đề khu vực cửa sông Bắc Luân tỷ lệ 1/10.000.2. Kết quả đàm phán và nội dung Hiệp định phân địnhCăn cứ vào Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, các nguyên tắc luật pháp và thực tiễn quốc tế được công nhận rộng rãi, trên cơ sở suy xét đầy đủ mọi hoàn cảnh hữu quan trong vịnh Bắc Bộ, theo nguyên tắc công bằng, qua thương lượng hữu nghị, hai bên đã đi đến ký kết Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước bao gồm 11 điều khoản với các nội dung cụ thể như sau:(1) Hai bên khẳng định các nguyên tắc chỉ đạo công tác phân định là tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, cùng tồn tại hoà bình; củng cố và phát triển mối quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống giữa hai nước, giữ gìn sự ổn định và thúc đẩy sự phát triển của vịnh Bắc Bộ; thông cảm, nhân nhượng lẫn nhau, hiệp thương hữu nghị, giải quyết một cách công bằng hợp lý.(2) Hai bên xác định phạm vi phân định vịnh Bắc Bộ:- Trong Hiệp định này, vịnh Bắc Bộ là Vịnh nửa kín được bao bọc ở phía Bắc là bờ biển lãnh thổ đất liền của hai nước Việt Nam và Trung Quốc, phía Đông là bờ biển bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam của Trung Quốc, phía Tây là bờ biển đất liền Việt Nam và giới hạn phía Nam là đoạn đường thẳng nối liền từ điểm nhô ra nhất của mép ngoài cùng của mũi Oanh Ca, đảo Hải Nam của Trung Quốc có tọa độ địa lý là vĩ tuyến 18030'19'' Bắc, kinh tuyến 108041'17'' Đông, qua đảo Cồn Cỏ đến một điểm trên bờ biển của Việt Nam có tọa độ địa lý là vĩ tuyến 16057'40'' Bắc và kinh tuyến 107008'42'' Đông.- Đường đóng cửa sông Bắc Luân là đường nối hai điểm nhô ra nhất của cửa sông tự nhiên trên bờ sông hai nước, tại ngấn nước triều thấp nhất;- Qua đàm phán, phía Trung Quốc đồng ý với đề nghị của ta là đường đóng cửa Vịnh ở phía Nam là đường thẳng nối mũi Oanh Ca (Trung Quốc) qua đảo Cồn Cỏ và cắt thẳng vào một điểm trên bờ biển Việt Nam.(3) Xác định đường biên giới lãnh hải và ranh giới đơn nhất cho cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ:- Hai bên đồng ý xác định đường phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ bằng 21 điểm có toạ độ địa lý xác định, nối tuần tự với nhau bằng các đoạn thẳng.- Đường phân định từ điểm số 1 đến điểm số 9 quy định tại Điều II của Hiệp định là biên giới lãnh hải của hai nước trong Vịnh Bắc Bộ. Mặt thẳng đứng đi theo đường biên giới lãnh hải của hai nước phân định vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải hai nước.- Đường phân định từ điểm số 9 đến điểm số 21 là ranh giới giữa vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong vịnh Bắc Bộ.- Đường biên giới này đi cách đảo Bạch Long Vĩ điểm gần nhất về phía Đông là 15 hải lý, dành cho đảo khoảng 25% hiệu lực. Đảo Cồn Cỏ được tính 50% hiệu lực trong phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Bãi Bạch Tô Nham (Trung Quốc) và các đảo Chàng Đông, Chàng Tây (Việt Nam) có hiệu lực nhất định trong phân định lãnh hải.Theo đường phân định, phía Việt Nam được hưởng 53,23% diện tích vịnh, phía Trung Quốc được 46,77% diện tích, Việt Nam hơn Trung Quốc 6,46% diện tích Vịnh, tức là khoảng 8.205 km2 biển. Căn cứ vào việc áp dụng nguyên tắc công bằng trong phân định và tiến hành đánh giá tính tỷ lệ giữa bờ biển của hai nước (tỷ số là 1,1:1) với tỷ lệ diện tích được hưởng (tỷ số là 1,135:1), có thể nhận thấy rằng đường phân định trong vịnh Bắc Bộ quy định trong hiệp định ký kết giữa hai nước là một kết quả công bằng, phù hợp với hoàn cảnh khách quan của vịnh Bắc Bộ và có thể chấp nhận.(4) Về chế độ pháp lý:Hai bên cam kết tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mỗi bên đối với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong vịnh Bắc Bộ được xác định theo hiệp định.(5) Về mặt tài nguyên:Hiệp định quy định rõ trong trường hợp có các cấu tạo mỏ dầu, khí tự nhiên hoặc cấu tạo mỏ khác hoặc tài nguyên khoáng sản khác nằm vắt ngang đường phân định, hai bên ký kết thông qua hiệp thương hữu nghị để đạt được thoả thuận về việc khai thác hữu hiệu nhất các cấu tạo hoặc khoáng sản nói trên cũng như việc phân chia công bằng lợi ích thu được từ việc khai thác.Hai bên cũng đồng ý tiến hành hiệp thương về việc sử dụng hợp lý và phát triển bền vững tài nguyên sinh vật trong vịnh Bắc Bộ cũng như hợp tác liên quan đến bảo tồn, quản lý và sử dụng tài nguyên sinh vật ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa hai nước trong vịnh Bắc Bộ.(6) Về cơ chế giải quyết tranh chấp. Hai bên cam kết mọi tranh chấp giữa hai bên ký kết liên quan đến việc giải thích và thực hiện hiệp định này sẽ được giải quyết một cách hoà bình, hữu nghị thông qua thương lượng.Việc phân định vịnh Bắc Bộ hai nước theo hiệp định này không ảnh hưởng hoặc phương hại đến lập trường của mỗi bên đối với quy phạm luật pháp quốc tế về luật biển.II. Kết quả và ý nghĩa của việc ký kết các hiệp định trong vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc

1. Việc ký kết các hiệp định trên được đánh giá là một trong 10 sự kiện nổi bật của Việt Nam trong năm 2000. Trước mắt, hai nước còn phải tiến hành các thủ tục phê chuẩn và trao đổi thư phê chuẩn thì các Hiệp định này mới có hiệu lực.

2. Việc ký kết các hiệp định này mở ra một trang mới trong lịch sử quan hệ Việt Nam - Trung Quốc cũng như trong lịch sử xác định biên giới biển và hợp tác nghề cá trên Biển Đông, là một sự kiện quan trọng đối với nước ta cũng như quan hệ Việt - Trung.Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc ngày 25/12/2000 nhấn mạnh: Việc hai nước ký kết "Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa hai nước Cộng hoà xã hội chủ ngĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa", "Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong vịnh Bắc Bộ giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa", "Hiệp định hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa" có ý nghĩa lịch sử sâu rộng, sẽ thúc đẩy hơn nữa quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện giữa hai nước phát triển mạnh hơn nữa trong thế kỷ XXI. Hai bên cam kết sẽ nghiêm chỉnh thực hiện các thoả thuận liên quan đã ký kết giữa hai nước, tích cực hợp tác, nỗ lực xây dựng biên giới hai nước thành biên giới hoà bình, hữu nghị.3. Với việc ký kết Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ, chúng ta đã giải quyết dứt điểm được vấn đề thứ hai trong ba vấn đề biên giới lãnh thổ tồn tại lâu nay với Trung Quốc (biên giới trên bộ, vịnh Bắc Bộ và Biển Đông).Lần đầu tiên, giữa ta và Trung Quốc đã có một đường biên giới biển rõ ràng bao gồm biên giới lãnh hải, ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ có giá trị pháp lý quốc tế, được hai bên cùng thoả thuận.Hiệp định quy định rõ hai bên cam kết tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của mỗi nước đối với các vùng biển và thềm lục địa của mỗi bên căn cứ vào luật pháp quốc tế và nội dung cả Hiệp định.Nội dung của Hiệp định là một giải pháp và kết quả công bằng, có cơ sở luật pháp và thực tiễn quốc tế, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh khách quan của vịnh Bắc Bộ, đáp ứng một cách hợp tình, hợp lý lợi ích chính đáng của mỗi bên.4. Các Hiệp định về phân định trong vịnh Bắc Bộ và Hiệp định về hợp tác nghề cá đã các định rõ phạm vi và tạo ra được một khuôn khổ pháp lý quốc tế rõ ràng, thuận lợi cho việc mỗi nước bảo vệ, quản lý, sử dụng, khai thác, phát triển kinh tế các vùng biển và thềm lục địa của mình trong vịnh Bắc Bộ, đồng thời cũng tạo điều kiện cho hai bên có cơ sở thúc đẩy hợp tác nhằm phát triển bền vững vịnh Bắc Bộ, duy trì sự ổn định trong Vịnh, tăng cường sự tin cậy và phát triển quan hệ chung giữa hai nước.Cùng với việc giải quyết các tranh chấp trên biển khác với các nước láng giềng có liên quan, việc ký kết hai hiệp định này là bước tiến mới trong việc xây dựng môi trường hoà bình, ổn định, hợp tác xung quanh nước ta, tạo điều kiện cho chúng ta tập trung sức lực xây dựng và phát triển đất nước, góp phần tích cực vào việc củng cố hoà bình và ổn định trong khu vực.5. Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ cũng có những đóng góp trong thực tiễn áp dụng và phát triển luật quốc tế về phân định như vấn đề phân định giữa hai nước có bờ biển vừa đối diện vừa tiếp giáp, vai trò của các đảo, các bãi nửa nổi nửa chìm trong phân định, vấn đề cửa sông biên giới với các địa hình đáy sông, đáy biển, vấn đề cửa vịnh, vấn đề eo biển quốc tế, giá trị của bản đồ trong hiệp ước biên giới... Hiệp định về hợp tác nghề cá cũng là một mô hình có giá trị đối với việc nghiên cứu, giải quyết các vấn đề về nghề cá trong khu vực Biển Đông trong tương lai.

6. Việc ký kết các hiệp định này một lần nữa đã thể hiện chính sách đúng đắn và thiện chí của nước ta sẵn sàng cùng các nước liên quan thông qua thương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật quốc tế và thực tiễn quốc tế, giải quyết các vấn đề về biên giới lãnh thổ, các vùng biển và thềm lục địa có liên quan, phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị với các nước, góp phần giữ gìn hoà bình, ổn định trong khu vực và thế giới.


Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Hải Thành @ 01:27 25/05/2009
Số lượt xem: 3579
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ BIỂN XANH - Luật sư trưởng Dương Viết Tình - Địa chỉ: Thôn Quảng Xá - xã Tân Ninh - huyện Quảng Ninh - Tỉnh Quảng Bình - Điện thoại: 0977 696 207